Thứ Sáu Tuần XXIX Thường Niên
Thánh Gio-an Ca-péts-tra-nô, linh mục (Lễ nhớ tự do)
KHÔN NGOAN THẾ GIAN VÀ SỰ MÙ LÒA TÂM LINH

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Lu-ca (Lc 12, 54-59)
Khi ấy, Đức Giê-su nói với đám đông rằng: “Khi các người thấy mây kéo lên ở phía tây, các người nói ngay: ‘Mưa đến nơi rồi’, và xảy ra đúng như vậy. Khi thấy gió nồm thổi, các người nói: ‘Trời sẽ oi bức’, và xảy ra đúng như vậy. Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các người biết nhận xét, còn thời đại này, sao các người lại không biết nhận xét? Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải? Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục. Tôi bảo cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng.”
KHÔN NGOAN THẾ GIAN VÀ SỰ MÙ LÒA TÂM LINH
Trong dòng chảy của lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn tìm cách giao tiếp với con người qua những dấu chỉ, những biến cố và đặc biệt là qua chính Ngôi Lời nhập thể là Đức Giê-su Ki-tô, thế nhưng bi kịch lớn nhất của nhân loại không phải là sự vắng mặt của Thiên Chúa mà là sự vô cảm và mù lòa của con người trước sự hiện diện đầy sống động của Ngài. Đoạn Tin Mừng hôm nay, dù ngắn gọn nhưng lại chứa đựng một lời cảnh tỉnh đanh thép và đầy xót xa của Chúa Giê-su đối với đám đông, và cũng là đối với mỗi người chúng ta trong thế giới hiện đại. Chúa Giê-su bắt đầu bằng một quan sát rất thực tế về khả năng tri thức của con người, Ngài khen ngợi gián tiếp sự nhạy bén của họ trong việc quan sát các hiện tượng thiên nhiên, người Do Thái thời bấy giờ sống nhờ nông nghiệp nên việc dự báo thời tiết là vấn đề sống còn, khi họ nhìn về phía Tây tức là phía biển Địa Trung Hải mà thấy mây đen kéo lên, họ biết ngay mưa sắp đến để chuẩn bị ruộng đồng, hay khi gió Nồm từ sa mạc phía Nam thổi tới, họ cảm nhận được cái nóng oi bức sắp bao trùm để lo liệu việc tưới tiêu, những kinh nghiệm đó được đúc kết qua bao thế hệ và trở thành một thứ khôn ngoan của thế gian giúp họ sinh tồn và phát triển. Sự nhạy bén này cho thấy trí tuệ con người thật tuyệt vời, con người có khả năng phân tích, tổng hợp và đưa ra những dự đoán chính xác dựa trên những dữ kiện ngoại quan, ngày nay khả năng ấy còn tiến xa hơn gấp bội khi chúng ta có thể dự báo bão từ xa hàng ngàn cây số, dự đoán sự biến động của thị trường chứng khoán, hay khám phá những bí ẩn tận cùng của vũ trụ và những hạt vật chất nhỏ bé nhất. Thế nhưng, ngay sau lời ghi nhận đó là một lời trách móc đầy đau đớn: “Những kẻ đạo đức giả kia”, Chúa gọi họ là đạo đức giả không phải vì họ giả vờ cầu nguyện hay bố thí, mà vì họ sống thiếu sự thống nhất giữa tri thức và đức tin, giữa cái nhìn bên ngoài và sự cảm nghiệm bên trong, họ tinh tường trong những chuyện thuộc về đất đai, vật chất, lợi lộc trần thế, nhưng lại hoàn toàn mù tịt trước những dấu chỉ của Nước Trời đang hiện diện ngay trước mắt họ.
Tại sao Chúa lại gay gắt đến như vậy? Bởi vì “thời đại này” mà Chúa nhắc đến không phải là một mốc thời gian vô hồn theo niên lịch, mà là “Kairos” – thời điểm của ân sủng, thời điểm Thiên Chúa viếng thăm dân Người. Dấu chỉ lớn nhất, rõ ràng nhất chính là Đức Giê-su, qua những lời giảng dạy đầy uy quyền, qua những phép lạ chữa lành kẻ bệnh hoạn, xua trừ ma quỷ và phục sinh kẻ chết, Nước Thiên Chúa đã đến rất gần, đã len lỏi vào từng ngõ ngách của cuộc sống Do Thái thời bấy giờ, vậy mà họ vẫn dửng dưng, họ vẫn đòi hỏi thêm những dấu lạ từ trời trong khi Đấng Cứu Thế đang đứng ngay trước mặt họ. Sự mù lòa này không phải do mắt họ kém, mà do lòng họ đã quá nặng nề với những lo toan trần thế hoặc những định kiến cứng nhắc. Chúng ta hãy nhìn lại chính mình trong bối cảnh hôm nay, chúng ta có thể là những chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, y học, giáo dục hay kỹ thuật, chúng ta dành hàng giờ mỗi ngày để cập nhật tin tức thế giới, phân tích xu hướng xã hội, bàn luận về chính trị hay lo lắng về biến đổi khí hậu, chúng ta rất giỏi tính toán xem đầu tư vào đâu thì sinh lời, làm cách nào để thăng tiến, ăn uống thế nào để khỏe mạnh, nhưng chúng ta lại quá ngây ngô và chậm chạp trong việc nhận ra ý Chúa trong cuộc đời mình. Khi một biến cố đau thương xảy đến, khi một thất bại ập tới, hay khi một niềm vui bất ngờ xuất hiện, chúng ta thường chỉ nhìn nó dưới lăng kính của may rủi hay quy luật tự nhiên mà quên tự hỏi: “Chúa muốn nói gì với con qua sự việc này?”.
Thiên Chúa không bao giờ ngừng nói, Ngài nói qua tiếng lương tâm, qua những lời khuyên của người khác, qua những biến cố xã hội, và nhất là qua Lời Chúa hằng ngày, nhưng bi kịch là tần số tâm hồn của chúng ta đang bắt sóng sai kênh, chúng ta để cho những nhiễu loạn của cơm áo gạo tiền, của danh vọng và khoái lạc làm át đi tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng kiên định của Thần Khí. Chúa Giê-su đặt câu hỏi: “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải?”, câu hỏi này mời gọi chúng ta trở về với sự tự do nội tâm và trách nhiệm cá nhân, đức tin không phải là sự tuân thủ mù quáng theo đám đông hay thói quen, mà là một sự phân định liên lỉ. “Cái gì là phải” ở đây không chỉ là chuyện đúng sai về mặt luân lý xã hội, mà là cái gì đẹp lòng Thiên Chúa, cái gì dẫn đến sự sống đời đời. Trong một thế giới vàng thau lẫn lộn, thật giả khó phân, sự phân định càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, chúng ta thấy cái ác được khoác lên mình chiếc áo nhân văn, sự ích kỷ được ngụy trang bằng quyền tự do cá nhân, và tội lỗi được hợp thức hóa bằng những trào lưu xã hội, nếu người Kitô hữu không có sự nhạy bén thiêng liêng như người nông dân nhìn trời đoán mưa, chúng ta sẽ dễ dàng bị cuốn trôi theo dòng xoáy của thế tục và đánh mất căn tính của mình.
Sự nhạy bén tâm linh mà Chúa mời gọi không phải là khả năng tiên tri đoán trước tương lai, mà là khả năng đọc được dấu chỉ tình yêu và sự cảnh báo của Chúa trong hiện tại. Một cơn bệnh có thể là dấu chỉ nhắc nhở ta về sự mỏng manh của kiếp người để bớt kiêu ngạo; một sự đổ vỡ trong tương quan có thể là lời mời gọi ta tập sống khiêm nhường và tha thứ; những bất công xã hội là tiếng gọi ta dấn thân làm chứng cho sự thật. Nếu chúng ta chỉ biết lo cho cái bụng no, cái mặc đẹp mà linh hồn thì đói khát và rách rưới, thì chúng ta đích thị là những kẻ “đạo đức giả” mà Chúa quở trách. Sự đạo đức giả nằm ở chỗ chúng ta mang danh Kitô hữu, mang danh con cái Sự Sáng nhưng lại sống và suy nghĩ hoàn toàn theo kiểu con cái thế gian. Chúng ta lo sợ trời mưa sẽ ướt áo, nhưng không lo sợ tội lỗi làm hoen ố linh hồn; chúng ta lo sợ nắng nóng làm đen da, nhưng không lo sợ lửa hỏa ngục thiêu đốt vĩnh viễn. Chúa muốn chúng ta dùng chính trí tuệ mà Ngài ban tặng – trí tuệ đã giúp ta chinh phục thiên nhiên – để chinh phục chính bản thân mình và nhận biết Đấng Tạo Hóa.
Thời đại này là thời đại của Lòng Chúa Thương Xót, nhưng cũng là thời đại đầy rẫy những cám dỗ tinh vi, mây đen của chủ nghĩa hưởng thụ, gió nồm của lối sống buông thả đang bao trùm nhân loại. Nếu chúng ta không tỉnh thức, cơn mưa bão của sự hư mất sẽ ập đến bất ngờ và khi ấy mọi sự hối tiếc đều đã muộn màng. Bài học về sự quan sát thiên nhiên nhắc nhở chúng ta về quy luật nhân quả: có mây thì có mưa, có gió thì có nóng, cũng vậy, có gieo tội thì có gặt phạt, có sống buông thả thì có lãnh hậu quả. Nhưng trên hết, dấu chỉ lớn lao nhất mà chúng ta cần nhận ra chính là sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh Thể và trong những người anh em bé nhỏ xung quanh. Đừng để Chúa đi qua cuộc đời ta mà ta không hay biết, đừng để ân sủng rơi xuống như mưa rào nhưng tâm hồn ta lại như tảng đá trơ trơ không thấm được giọt nước nào. Hãy xin Chúa mở đôi mắt đức tin của chúng ta, để giữa những ồn ào náo nhiệt của phố chợ trần gian, ta vẫn nhận ra bước chân của Chúa đang đến, để giữa những đám mây đen kịt của thử thách, ta vẫn thấy ánh sáng hy vọng của Phục Sinh, và để chúng ta biết sống khôn ngoan thực sự – sự khôn ngoan không chỉ để tồn tại vài mươi năm trên dương thế, mà là sự khôn ngoan để chiếm hữu hạnh phúc vĩnh cửu trong Nước Trời.
Lm. Anmai, CSsR




















