Thứ Bảy trong tuần thứ Tư Mùa Phục Sinh : Chúa thương thì Chúa chọn

Thánh Matthia, Tông Đồ

Cv 13:44-52; Tv 98:1,2-3,3-4; Ga 14:7-14

Chúa thương thì Chúa chọn

          Thánh Matthia Tông Đồ đã được chọn để thế chỗ cho Giuđa. Theo bài đọc I của Thánh lễ hôm nay thì Matthia hay Giustô là một trong số 120 môn đệ có mặt tại nhà tiệc ly lúc đó. Matthia cùng với Joseph biệt danh là Bácsaba là hai người được đề cử, nhưng khi cầu nguyện và bắt thăm thì Matthia được trúng và được kể là một trong số 12 Tông Đồ. Và theo lời thánh Phêrô thì Matthia đã cùng sống với Chúa Giêsu.

          Trang Tin Mừng hôm nay đề cập đến hai vấn đề quan trọng:

          Điều răn mới của Chúa Giêsu

          Và việc Chúa chọn các Tông Đồ.

          Hôm nay, trong bầu khí thân mật của nhóm Thầy trò, Chúa Giêsu tâm sự với các Tông Đồ: như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy (Ga 15,9).

          Có lẽ các Tông Đồ đang rất cảm động trước những lời yêu thương đó và đang lắng nghe với tất cả trái tim rung cảm của mình. Tình yêu này đã nâng các Tông Đồ lên, từ địa vị Thầy trò đến địa vị bạn bè: Anh em là hạn hữu của Thầy(Ga 15,19). Tình yêu đích thực bao giờ cũng khiêm hạ. Tình yêu là một sức mạnh có thể biến đổi một môn đệ yếu đuối thành một người bạn thân yêu.

          Trong thế giới loài người cũng vậy. Không phải những lời nói hay, những lý luận sắc bén mà thay đổi được một con người, nhưng là tình yêu. Lịch sử Giáo Hội cho thấy, Giáo Hội được canh tân là nhờ sức mạnh tình yêu của các vị thánh chứ không phải do những lý luận sắc bén của các nhà thần học hay triết gia lỗi lạc.

          Vì thế mà Chúa Giêsu nhấn mạnh đến tình yêu, đến điều răn mới. Trước khi chọn Phêrô đứng đầu Hội Thánh, Chúa cũng đòi hỏi ở Phêrô về lòng mến chứ không phải kiến thức, khả năng hay bằng cấp.

          Chính Thầy  đã chọn anh em… để anh em ra đi, sinh nhiều hoa trái (Ga 15,16).

          Hai vợ chồng nhà báo người Hà Lan tên là Val Der Meer de Walcheren đã cùng xin chịu Bí tích Thánh Tẩy vào năm 1911 để gia nhập Giáo hội Công giáo. Sau đó, ông bà đã lần lượt khuyên các con cùng theo đạo, rồi lại cùng lần lượt theo đuổi ơn gọi Tận Hiến của các dòng tu. Người con trai lớn sau này trở thành một linh mục dòng Biển Đức Nam (Bénêdictin), người con gái kế làm nữ tu trong đan viện Biển Đức Nữ (Bénédictine).

          Năm 1933, nhờ lòng khao khát tuyệt đối và ý chí tận hiến cho Chúa, Tòa Thánh đã chấp thuận đơn xin của hai ông bà để họ được phép chia tay nhau trong Lòng Mến Đích Thật. Ông xin được vào dòng Biển Đức Nam, nơi người con trai linh mục vừa sớm lìa đời, còn bà thì xin vào dòng Biển Đức Nữ chung với người con gái .

          Trong thời kỳ tập tu, Bề Trên cả hai dòng chỉ định cho ông bà phải tiếp tục thường xuyên thư từ cho nhau. Sau hai năm, cả hai ông bà vẫn đầy thiện chí, sẵn sàng hy sinh dâng mình cho Chúa. Thế nhưng, Bề Trên của hai bên đều nhận thấy mối duyên tình của ông bà còn quá khăng khít, nên đã khuyên cả hai trở về với đời sống gia đình. Ông bà vâng lời trở về, tiếp tục sống hạnh phúc bên nhau, chan hòa lòng yêu thương bác ái đối với tha nhân, nhất là với những người nghèo khổ.

          Đến năm 1954 thì bà Val Der Meer de Walcheren qua đời. Nối lại ý hướng từ 20 năm về trước, cụ ông 74 tuổi đã xin trở lại tu viện. Và vào ngày 22.12.1956, cụ được thụ phong linh mục tại nhà nguyện tu viện Đức Mẹ nơi người con gái của cụ vẫn đang sống cuộc đời đan tu gương mẫu đã hơn 40 năm qua .

          Qua trang Tin Mừng hôm nay, ta thấy thánh Philipphê, một trong nhóm mười hai đã nói lên ước muốn: “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”. Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào? Và trả lời làm sao? Ðó là những vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong bài Tin Mừng.

          Chúa không chọn các Tông Đồ dựa trên tiêu chuẩn của loài người; và khi đã chọn rồi thì Chúa chỉ đòi hỏi một điều nơi những người được chọn: hãy yêu mến nhau. Và khi đã chọn ai thì Chúa liền ra lệnh: hãy ra đi và sinh nhiều hoa trái.

          Tâm trạng của Philipphê cũng là tâm trạng của vị vua trên hay của bất cứ ai trong chúng ta, một niềm tin đòi hỏi sự lạ. Bởi thế mà không ít người sẵn sàng hao tốn tiền bạc, thời giờ để tìm đến nơi xảy ra dấu lạ cho bằng được. Một dịp hành hương có ý nghĩa và quan trọng hơn Tam Nhật Thánh của ngày lễ Phục Sinh.

          Tuy nhiên, đáp lại yêu cầu của Philipphê, Chúa Giêsu đã dùng một lời khẳng định và một câu hỏi khẳng định đặt trước và một câu hỏi nằm sau. Nếu theo đúng phương pháp sư phạm, câu hỏi phải được đặt trước, vì đặt câu hỏi là giúp khai mở dần của việc đối diện để hướng về sự thật sắp được giãi bày. Chẳng phải Chúa Giêsu không biết đến phương pháp này, nhưng Ngài đã trả lời cách khác, vì Ngài muốn nêu lên một chân lý: “Ai thấy Thầy là thấy Cha, Thầy với Cha là một”. Ðó là một thực tại quá hiển nhiên không còn phải bàn cải.

          Câu hỏi tiếp theo có công dụng như một lời nhắc nhở cho Philipphê hãy quay nhìn trở lại cuộc sống thân tình giữa Thầy và các môn đệ. Những lời Thầy nói, những việc Thầy làm không phải là của Thầy, nhưng đều là của Thiên Chúa Cha ở trong Thầy. Sự thân tình quen thuộc đã khiến cho các môn đệ chẳng nhận ra Ngài là Thiên Chúa.

          Lời nhắc nhở của Chúa Giêsu đối với tông đồ Philipphê cũng là lời Ngài muốn nhắc nhở chúng ta hôm nay. Ðừng cho các quen thuộc bên ngoài che mất thực tại bên trong. Tìm kiếm Thiên Chúa là một điều tốt, nhưng thật đáng trách khi đứng trước Ngài mà chẳng nhận ra Ngài. Chúng ta nôn nao tìm kiếm dấu lạ, nhưng rồi dấu lạ xảy ra trước mắt mà lại chẳng nhìn thấy.

          Hằng ngày qua lời truyền phép của linh mục, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trên bàn thờ mà đã mấy lúc chúng ta tỏ ra thái độ cung kính tin nhận Ngài. Và rồi trong cuộc sống, biết bao lời cầu khẩn, xin ơn được dâng lên Thiên Chúa, nhưng đã có lần nào chúng ta biết dừng lại để khám phá ra ơn lành của Ngài đã bị mất giữa chuỗi dài những quen thuộc thường xảy ra.

          Chúa Giêsu muốn Kitô hữu chúng ta cũng phản ánh dung mạo của Người cho tất cả mọi anh em còn xa lạ với Chúa để họ được nhận biết Người; nghĩa là: nhìn vào đời sống các con, thiên hạ sẽ nhận biết được sự tốt lành của Thiên Chúa chân thật. Cụ thể: Tình thương được diễn tả bằng những cử chỉ cảm thông, chia sẻ, và phục vụ cách vô vị lợi – “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau” (x. Ga 13, 35); bên cạnh đó, chúng ta còn phản ánh dung mạo của Đức Kitô bằng đời sống ngay thẳng, thật thà, liêm chính không gian dối, lươn lẹo, lọc lừa, hay tham lam, ích kỷ nơi học đường, trong công sở, chỗ làm việc…

          “Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm; người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn.”  Nhận biết và tin vào Thiên Chúa, chúng ta được thúc đẩy dấn thân để thực thi trọn vẹn ý muốn của Người. Như Thiên Chúa ở trong Đức Ki-tô và làm mọi việc (c. 10), chúng ta hãy tha thiết gắn bó và cầu xin để Đức Ki-tô làm mọi việc trong chúng ta hầu thi hành thánh ý của Người; và như thế chắc chắn muôn điều kỳ diệu sẽ được thực hiện trong cuộc sống.

Lm Anton Tuệ Mẫn