Tìm hiểu Lời Chúa Thứ Hai tuần XXI Thường Niên (năm lẻ)

 

1 Tx 1:1-5, 8-10

Trong 9 tuần vừa qua, chúng ta đã đọc Cựu Ước, bắt đầu từ chương 12 sách Sáng Thế và đi qua các đoạn chọn lọc của 8 sách đầu tiên: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giôsuê, Thủ Lãnh và Rút.

Hôm nay, chúng ta trở lại Tân Ước với thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi cho các Kitô hữu tại Thessalonica (Thêxalônica), vùng Macedonia ở miền bắc Hy Lạp.

Các thư của Phaolô (và những thư được gán cho ngài) trong Tân Ước không xếp theo thứ tự thời gian viết, mà theo độ dài: thư Rôma dài nhất nên được đặt đầu tiên, còn thư gửi Philêmôn ngắn nhất nên để cuối.

Tuy nhiên, thư 1 Thêxalônica dù ở gần cuối danh sách, lại chính là bức thư sớm nhất của Phaolô mà ta còn giữ được. Nó được viết khoảng năm 51 CN, tại Côrintô (thuộc miền nam Hy Lạp), tức chỉ hơn 20 năm sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Như vậy, đây cũng là sách sớm nhất trong toàn bộ 27 sách Tân Ước, ra đời trước cả các sách Tin Mừng.

Dù khoảng cách 20 năm có vẻ xa đối với chúng ta ngày nay, nhưng trong bối cảnh xã hội thời đó, thay đổi diễn ra rất chậm; 20 năm hầu như không làm biến chuyển nhiều. Vì thế, điều đáng chú ý là ngay ở giai đoạn sớm như thế, sứ điệp Kitô giáo đã phát triển rất rõ ràng.

Phaolô gọi đó là Tin Mừng (euangelion – nghĩa là “Tin Tốt Lành”). Các sách Tin Mừng theo Mátthêu, Máccô, Luca, Gioan phải hơn 20 năm sau mới ra đời, nhưng ở đây ta thấy nội dung Tin Mừng đã được loan báo đầy đủ.

Thành phố Thêxalônica

Thành này là một hải cảng lớn, nằm ở đầu vịnh Thermaic, nơi giao nhau của đại lộ Egnatia (Via Egnatia – con đường huyết mạch nối Đông và Tây Đế quốc La Mã) và con đường dẫn về phía bắc tới sông Danube. Dân số khoảng 200.000, là thành phố lớn nhất và là thủ phủ của Macedonia.

Bối cảnh thành lập Giáo hội Thêxalônica được kể trong Cv 17:1-9. Phaolô khởi sự rao giảng tại hội đường Do Thái, nên cộng đoàn có một số người gốc Do Thái. Nhưng thư 1 Tx 1:9-10 và Cv 17:4 cho thấy phần lớn tín hữu là dân ngoại trở lại.

Mục đích của Phaolô khi viết thư:

  • khích lệ các tân tòng đang gặp thử thách (3:3-5),
  • hướng dẫn đời sống đạo đức (4:1-8),
  • nhắc một số người đừng bỏ bê việc làm hằng ngày (4:11-12),
  • và trấn an họ về số phận những người đã qua đời trước khi Chúa Kitô quang lâm (ch. 4).

Một điểm nổi bật: cả hai thư Thêxalônica đều tập trung nhiều vào mầu nhiệm cánh chung (tận thế). Mỗi chương của thư thứ nhất đều kết thúc bằng việc nhắc đến ngày Chúa Kitô quang lâm.

Nội dung bài đọc hôm nay

Thánh Phaolô bày tỏ niềm vui khi thấy nơi cộng đoàn Thêxalônica ba nhân đức nền tảng: đức tin, đức cậy và đức mến. Đây chính là dấu chỉ họ thuộc về Thiên Chúa, được Ngài yêu thương và tuyển chọn.

Khi nghe Tin Mừng, họ không chỉ tiếp nhận như một lý thuyết, mà để cho Lời biến đổi tận căn đời sống mình, bất chấp sự chống đối bên ngoài. Đức tin của họ trở thành gương sáng, vang dội đến tận Macedonia, Achaia và nhiều nơi khác.

Phaolô nhấn mạnh: đức tin đích thực dẫn đến hành động (x. Gc 2:14,26).
Đức cậy không phải là mong ước mơ hồ, nhưng là niềm xác tín vững chắc nơi Chúa Giêsu, Đấng hứa ban sự sống đời đời (Ga 14:6).
Đức mến được diễn tả trọn vẹn nhất nơi Chúa Kitô, Đấng hy sinh mạng sống vì bạn hữu (Ga 15:13).

Cộng đoàn Thêxalônica đã:

  1. từ bỏ ngẫu tượng,
  2. phụng thờ Thiên Chúa hằng sống và chân thật,
  3. mở lòng trông chờ ngày Chúa Giêsu ngự đến.

Trong thời kỳ sơ khai, các Kitô hữu chờ đợi Chúa quang lâm sớm. Nhưng theo thời gian, khi thấy Chúa chưa đến, họ hiểu rằng cần dấn thân bền bỉ vào việc sống và loan báo Tin Mừng.

Ở cuối đoạn, Phaolô nhắc hai yếu tố cốt lõi của Tin Mừng:

  • niềm tin độc thần: chỉ có một Thiên Chúa chân thật,
  • niềm tin Kitô học: Đức Giêsu Kitô, Đấng Phục Sinh, sẽ lại đến để cứu dân Người khỏi cơn thịnh nộ trong ngày phán xét.

Lời mời gọi cho chúng ta

Nếu Phaolô viết thư cho cộng đoàn của chúng ta hôm nay – giáo xứ hay giáo phận – ngài sẽ khen ngợi điểm nào, nhắc nhở điều gì cần sửa đổi? Và mỗi người chúng ta, cá nhân, sẽ nghe được lời mời gọi nào?

Thứ Hai, Tuần XXI Thường Niên – Tin Mừng
Chú giải Mt 23,13-22

Chúng ta tiếp tục với cuộc công kích của Đức Giêsu nhắm vào não trạng của các kinh sư và người Pharisêu. Cần lưu ý (như đã nói hôm thứ Bảy vừa rồi) rằng: trước hết, điều được nói ở đây liên quan nhiều hơn đến một cách sống, não trạng, hơn là sự kết án chung toàn bộ một nhóm người; và thứ hai, những lời này chủ yếu được nghe như là lời mời gọi để chính các cộng đoàn Kitô hữu chúng ta suy gẫm và xét lại cách hành xử của mình.

Hôm nay và hai ngày kế tiếp, chúng ta đọc thấy bảy lời “khốn thay” Đức Giêsu dành cho các nhà lãnh đạo tôn giáo tha hóa. Như chúng ta đã thấy, con số bảy vốn là con số ưa thích của Matthêu.

Bảy lời “Khốn thay” là:

  1. Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho người ta vào. (c.13)
  2. Các ngươi nuốt hết tài sản của các bà goá… (c.14) (câu này không có trong một số bản văn).
  3. Các ngươi lặn lội khắp biển cả, đất liền để rủ được một người theo đạo… (c.15)
  4. Các ngươi là những kẻ dẫn đường mù quáng, dạy rằng: “Ai nhân danh Đền Thờ mà thề thì chẳng sao…” (cc.16-22)
  5. Các ngươi nộp thuế thập phân bạc hà, thì là, rau thơm… (cc.23-24)
  6. Các ngươi rửa sạch bên ngoài chén đĩa… (cc.25-26)
  7. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi… (cc.27-28)
  8. Các ngươi xây mồ mả cho các ngôn sứ… (cc.29-32)

Hôm nay, bài Tin Mừng đưa ra ba lời “khốn thay” đầu tiên:

  1. “Các ngươi khóa cửa Nước Trời…” (c.13) và (c.14 – không có trong một số bản văn) “Các ngươi nuốt hết tài sản của các bà goá…”

Đức Giêsu trách các nhà lãnh đạo là khóa cửa Nước Trời, không cho người khác vào, mà chính họ cũng chẳng vào. Một mặt, đây là lời ám chỉ việc họ khước từ Đức Giêsu – Đấng chính là hiện thân của Nước Trời, đang rao giảng về Nước Trời và nhờ Người mà Nước Trời trở nên gần gũi, dễ dàng cho mọi người. Mặt khác, điều này cũng có nghĩa là họ làm cho việc tuân giữ Lề Luật trở nên khó khăn quá mức, bằng những lối giải thích phức tạp và cứng nhắc.

Trong đời sống chúng ta, cho dù là cha mẹ, thầy cô, linh mục hay tu sĩ, chúng ta cũng có thể, vì cách sống hoặc cách hành xử, mà ngăn cản người khác đến gần Chúa Giêsu, đồng thời chính bản thân ta cũng xa Người.

Câu 14 (bỏ trong một số thủ bản) nói Đức Giêsu kết án những kinh sư Pharisêu giả hình: đọc những lời kinh dài dằng dặc, nhưng lại không ngần ngại chiếm đoạt tài sản của các bà goá – những người nghèo khổ và bấp bênh nhất trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ. Đây là một kiểu lợi dụng tôn giáo để bóc lột hèn hạ. Hôm nay, điều này có thể so sánh với những “mục sư truyền hình” hay một số người rao giảng, tìm cách moi tiền của những kẻ nghèo và cả tin – những người lẽ ra phải được giúp đỡ chứ không phải bị lợi dụng.

  1. “Các ngươi lặn lội khắp biển cả, đất liền để rủ được một người theo đạo…” (c.15)

Trong khi chính họ cố tình ngăn cản người ta đến gần Đức Giêsu, thì họ lại tỏ ra rất nhiệt thành đi tìm tân tòng, lặn lội khắp nơi để kéo một người theo. Nhưng, Đức Giêsu trách, họ chỉ làm cho kẻ đó trở nên còn tệ hại hơn chính họ, vì đã nhồi nhét cho người ấy những quan niệm lệch lạc về tôn giáo: chú trọng quá đáng vào các việc thanh tẩy bề ngoài, các hình thức, và từ đó tạo cho họ một sự an toàn giả tạo về ơn cứu độ.

Vào thời ấy, việc người Do Thái rao giảng, kết nạp người ngoại khá mạnh trong thế giới Hy-La. Ngày nay, hiện tượng tương tự cũng có thể thấy trong một số nhóm Kitô hữu.

  1. “Các ngươi là những kẻ dẫn đường mù quáng…” (cc.16-22)

Ở đây, Đức Giêsu tố cáo sự tham lam và trục lợi của họ. Họ dạy người ta rằng: thề nhân danh Đền Thờ thì không ràng buộc gì, nhưng thề nhân danh vàng trong Đền Thờ thì mới có giá trị; thề nhân danh bàn thờ thì không sao, nhưng thề nhân danh lễ vật đặt trên bàn thờ thì mới phải giữ. Tất cả là những mánh khóe để buộc người ta phải trả tiền, phải nộp của lễ. Đức Giêsu hỏi: cái gì quan trọng hơn – Đền Thờ hay vàng được thánh hóa trong đó? Bàn thờ hay lễ vật được dâng trên đó?

Một lần nữa, đây là sự lợi dụng niềm tin và lòng đạo đức của người nghèo để phục vụ lợi ích riêng.

Áp dụng hôm nay

Đáng buồn thay, ngay trong thời đại chúng ta cũng không thiếu những hiện tượng lạm dụng quyền bính và địa vị, trong Giáo Hội, trong chính quyền, trong kinh tế hay xã hội. Những chỗ lẽ ra phải là nơi phục vụ thì lại biến thành phương tiện trục lợi cá nhân, thường là trên lưng của những người nghèo và yếu thế nhất.

Không ít quốc gia, lẽ ra đã phải phát triển giàu có và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho dân, nhưng nay lại nghèo nàn, khánh kiệt cả về vật chất lẫn tinh thần, trong khi một thiểu số hưởng thụ xa hoa vô sỉ.

Ngay trong Giáo Hội, cũng có lúc chúng ta quá bận tâm đến vấn đề tiền bạc mà sao lãng sứ mạng mục vụ. Một giáo phận, một giáo xứ, một giám mục hay linh mục sống giàu có trong bối cảnh bao người nghèo khổ thì trở thành chướng ngại lớn cho việc đón nhận Tin Mừng.