Có một thương nhân Ả rập cùng đòan tùy tùng theo con đường tơ lụa để buôn bán, rủi thay một lần nọ ông ta bị bão cát cuốn phăng tất cả cơ đồ. Hàng hóa và gia nhân bị mất sạch theo cơn bão ác nghiệt. Ông ta kiệt quệ cố tìm đường vào Baghdad . Trong cơn khát khủng khiếp, tình cờ, ông ta bắt gặp một dòng suối. Với tất cả sự vui mừng hoan hỉ, ông ta uống từng ngụm nước và cảm thấy ngọt ngào, mát lạnh như chưa từng được uống bao giờ. Quả là một thứ nước diệu kỳ !. Ông múc nước đổ vào bầu da cho đầy và tiếp tục lên đường.
Sau nhiều ngày vất vả ông ta cũng vào đến thủ đô Baghdad. Ông tìm đến vị quan đứng đầu thủ đô vốn là chốn thâm giao để xin được giúp đỡ. Ông thuật lại tai họa của mình và dâng tăng vị quan nọ bầu nước với lời quảng cáo không có nước nào trong, ngọt và mát lạnh như thế. Quan đổ nước vào ly, uống cạn và cảm ơn thương nhân. Một vài người hầu thấy thế cũng xin quan cho được thưởng thức thứ nước diệu kỳ trên. Nhưng quan từ chối… Chờ cho người Ả rập đi khuất, quan mới giải thích với những người hầu : “nước để trong bầu da lâu ngày đã trở nên hôi và bẩn. Ta nghĩ các ngươi mà uống các ngươi sẽ nôn ra vì không chịu nổi và như thế sẽ làm tổn thương người bạn của ta”
“Chị cho tôi xin chút nước uống”. Đức Giêsu đã mở đầu câu chuyện bằng một lời nài xin ngắn gọn, mặc dầu Ngài dư biết giữa Ngài và người phụ nữ Samari có rất nhiều rào cản cho sự đối thọai đó : rào cản về giới tính, rào cản về quốc gia – chủng tộc và nhất là rào cản về tôn giáo.Chỉ với câu ngắn gọn đó dần dà Ngài đã xoay đổi tình thế : từ người xin nước Ngài trở nên người cho nước. Ban đầu chỉ xin nước giếng để uống sau đó trở thành người ban phát thứ nước hằng sống mà chị phụ nữ mong mỏi.
Người Ả rập cứ tưởng mình trao tặng cho vị quan thứ nước diệu kỳ hiếm có. Hóa ra chính quan mới là người trao tặng ông ta món quà vô giá, với một phong cách trao ban hết sức tế nhị và thấm đậm tình người.
Người phụ nữ Samari cứ tưởng mình làm ơn cho Đức Giêsu khi cho Người uống nước từ giếng Giacóp. Hóa ra chính Chúa mới là vị ân nhân sẽ ban cho chị ta một thứ nước hằng sống, thứ nước uống vào sẽ không bao giờ khát nữa. Nước ấy chính là Lời của Người, lời bày tỏ cho người phụ nữ ấy biết chính Người là Đấng Mêsia : “Đầng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”. Thông điệp đó đến với chị ta như là một niềm vui vỡ òa trong tim, và chị đã vội vã loan báo cho dân làng để họ cùng được uống thứ nước hằng sống ấy của Đức Giêsu.
“Đấng ấy” chính là Mêsia, vị cứu tinh của nhân lọai. Chỉ những ai tin vào Người mới đáng lãnh nhận ơn cứu độ.
“Đấng ấy” chính là nước hằng sống. Chỉ những ai thật lòng lắng nghe và thực hành Lời Chúa mới được ban cho uống thỏa thuê.
Kết cuộc của bài Tin Mừng cho ta thấy sự thành công của Lời Chúa khiến cả thành cùng đón rước Đức Giêsu và Ngài đã ở lại 2 ngày với họ.
Cuộc sống của con người nói riêng và của xã hội nói chung có lẽ đôi lúc cũng như căn phòng đen tối, chỉ cần một ai đó thắp lên một chút ánh sáng để sưởi ấm tâm hồn giá lạnh, cô đơn. Chỉ cần ai đó đốt lên một ngọn nến cũng đủ soi tỏ cho mọi người bước tới. Một chút ánh sáng của một lời chào hỏi. Một chút ánh sáng của một nụ cười. Một chút ánh sáng của sự san sẻ. Một chút ánh sáng của thứ tha….
Cũng như Chúa chỉ cần mở lời “Chị cho tôi xin chút nước uống” cũng đủ để làm đổi thay cuộc đời của người phụ nữ samari và dân làng cả thành, thì mỗi người chúng ta cũng hãy thử cố gắng làm một cái gì đó cho anh em …Cũng như người phụ nữ nọ sau khi được uống nước hằng sống đã mau mắn loan tin lành cho mọi người trong thành về Đấng Mêsia đã đến thăm dân trong thành thế nào thì mỗi lần lãnh nhận Lời Chúa, chúng ta hãy đem Lời đó truyền rao cho những người xung quanh để mọi người cũng hiểu và đem ra thực hành Lời ấy.



















