Xem thêm những dịch vụ cung cấp quần áo vest nam đẹp, mạ vàng điện thoại, thông tắc chậu rửa bát, phu tung xe howo và dịch vụ hút bể phốt được nhiều đợn vị và cá nhân bình chọn tại Hà Nội và TPHCM


Hạnh Thánh Tháng 6 Phần 2

Đăng lúc: Thứ năm - 03/04/2014 22:57 - Người đăng bài viết: admin
Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con.

Hạnh Thánh Tháng 6_phần 2

Ngày 5 tháng 6 
THÁNH BÔ-NI-PHÁT 
Giám mục tử đạo

Gương thánh nhân: Thánh Bô-ni-phát tên thật là Quin-rít, sinh ở nước Anh năm 673. Gia đình thánh nhân thường là nơi tạm trú cho các nhà truyền giáo, nên thánh nhân rất mến mộ việc giảng đạo. Lớn lên, ngài xin đi tu, nhưng người cha từ chối. Sau đó ngài ngã bệnh nặng nên cha ngài hoảng sợ, chấp nhận cho ngài vào tu viện. Khi ngài mạnh lại, ngài vào đan viện ở Ê-xê-tê học hành giỏi giắn, đạo đức, thánh thiện.

Năm 30 tuổi, thánh nhân chịu chức Linh mục và được chọn làm tu viện trưởng; nhưng ngài từ chối và tình nguyện đi giảng đạo bên nước Đức. Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô thứ hai đã trao cho ngài trách nhiệm truyền giáo cả nước Đức và đặt tên ngài là Bô-ni-phát nghĩa là người làm ơn. Và năm 722, ngài được thụ phong giám mục.

Công cuộc truyền giáo của thánh nhân rất kết quả. Dân chúng nghe ngài giảng đạo thì tin theo Chúa và gia nhập đạo. Đi tới đâu ngài cũng lập nhà nguyện, tu viện làm trung tâm truyền giáo, nhất là đào tạo thêm người phụ giúp, dầu vậy, cũng thiều người cộng tác, vì như lời Chúa nói: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít.

Thánh nhân phải kêu gọi thêm trợ giúp ở quê hương ngài. Nhiều người đã đến phụ công góp của. Nhờ đó mà đạo Chúa ngày càng lan tràn trên nước Đức.

Năm 731, Đức Giáo Hoàng Bô-ni-fa-ci-ô thứ ba nâng thánh nhân lên Tổng Giám mục và giao cho trách nhiệm thành lập các giáo phận ở Đức. Ngài đã thiết lập địa phận Hết-sen, Thu-ren-gen...và chọn Ma-den làm Toà Tổng giám mục.

Mặc dầu làm việc kết quả và được thăng quyền tiến chức, thánh nhân vẫn sống khiêm tốn và luôn luôn tin tưởng trông cậy Chúa. Lúc nào ngài cũng nói: " Tất cả là hồng ân Chúa ban:"Ta hãy tin tưởng vào Đấng đã đặt gánh nặng trên vai ta. Gánh nào ta không mang nỗi thì ta hãy nhờ Người mà mang, vì Người là Đấng toàn năng và Người đã phán: Ách Ta thì êm ái và gánh Ta lại nhẹ nhàng.

Ta hãy đứng nơi trận chiến trong ngày của Chúa, vì những ngày gian truân đau khổ đang ập đến trên ta. Nếu Chúa muốn thì chúng ta hãy chết cho các thánh luật của cha ông chúng ta, để được dự phần gia nghiệp cùng với các ngài.

Ta đừng như những con chó câm, những người canh nín thinh, những kẻ chăn thuê bỏ chạy khi sói đến, nhưng hãy là những mục tử thao thức canh phòng đoàn chiên của Đức Kito, giảng cho mọi người lớn nhỏ, già trẻ, biết được ý định của Thiên Chúa bao lâu Người còn cho phép ta làm được, dù gặp thời thuận lợi hay không, y như thánh Ghê-gô-ri-ô đã viết trong cuốc sách của Ngài về nhiệm vụ mục tử."1

Nhưng như lời Chúa phán:" Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ".Chúa là thầy, là Chủ mà còn bị bắt bớ giết hại thì môn đệ Chúa không thể tránh khỏi.

Một hôm thánh nhân đang cử hành thánh lễ, đoàn người mang khí giới xông tới, bổ lên đầu ngài một nhát búa... và ngài trút hơi thở cuối cùng ngáy 5 tháng 6 năm 754.

Quyết tâm: Hằng ngày, ti6 hy sinh chịu khó cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Hội thánh, và hết lòng tin tưởng trông cậy Chúa như thánh Bô-ni-phát.

Lời nguyện: Lạy Chúa, nhờ ơn Chúa, thánh Bô-ni-phát Giám mục đã dùng lời nói mà rao giảng đức tin và lấy máu đào để minh chứng. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con giữ vững lòng ti, và lấy lòng can đảm mà tuyên xưng lòng tin đó.

***
* Thánh Luca Vũ Bá Loan
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân: Đức tin kiên vững là sức mạnh chiến thắng mọi gian lao thử thách. Sở dĩ các anh hùng tử đạo chịu nổi mọi cực hình, tù ngục, chết chóc là vì các ngài tin tưởng Chúa mạnh mẽ, kiên cường. Các ngài tin chắc rằng: qua những hình khổ tạm bợ này, các ngài sẽ được hưởng hạnh phúc muôn đời bất diệt; sau cái chết chóng qua này, các ngài sẽ được sống mãi mãi ngán thu. Luca Vũ Bá Loan sinh năm 1756 tại họ Bút Quai, xứ Bút Đông, thuộc địa phận Tây Đàng ngoài. Ngay ừ nhỏ, cậu đã được Chúa gọi dâng mình giúp việc Chúa. Cậu tu học ở Phú Đa và Kẻ Bèo. Sau khi mãn khoá thần học, thầy Loan được thụ phong linh mục, và đi giúp xứ Nam San, rồi đến xứ Kẻ Vời. Và năm 1828 Đức cha sai đến giúp xứ Kẻ Sở và ở đó cho đến khi bị bắt.

Cha là một linh mục gương mẫu về đức mến Chúa yêu người, luôn luôn nhiệt thành phụng sự Chúa và phục vụ các tín hữu. Ngoài ra việc ban phát các bí tích cho giáo dân, cha rất chuyên cần cầu nguyện và giảng dạy. Cầu nguyện đối với cha là điều kiện tối cần cho việc tông đồ. Có cầu nguyện và sống kết hợp với Chúa thì lời giảng dạy mới đánh động được lòng người, mới cảm hoá tâm hồn. Những lúc rảnh rỗi, cha thăm viếng người nghèo khó bệnh tật, khuyến khích an ủi các tín hữu bê bối trễ nải.

Lúc đó ở Kẻ Sở có hai người ngoại giáo tên là Đỗ Cang và bá hộ Kiểng đã vi phạm luật nhà nước đang chờ ngày xét xử. Họ biết vua Minh Mạng cấm đạo, nên bàn tính với nhau bắt cha Loan nộp cho quan để lập công chuộc tội. Thế là ngày 10 tháng giêng năm 1840, họ giả vờ đế thăm cha rồi bắt cha xuống thuyền chở đi. Giáo hữu nghe tin cha bị bắt, thì vội vàng thu góp tiền đi chuộc cha. Nhưng họ đòi tới 2000 quan, các tín hữu không chuộc nổi, nên họ đem nộp cha cho quan huyện Phú Xuyên. Quan huyện thấy cha quá già yếu thì không nhận, nên họ phải điệu cha đến thẳng Thăng Long.

Ở Thăng Long, các quan thấy cha tuổi già sức yếu thì rất kính nể, nhưng vì vua đã ra lệnh cấm đạo và việc cha bị bắt đã công khai, nên đành phải cho giam vào ngục, nhưng căn dặn lính1 gác: Cụ già cả, tuổi cao sức yếu, phải đối xử tử tế, không được vô lễ hành hạ cụ, cũng chớ cấm người ta thăm viếng chăm sóc cụ.

Nhờ đó trong những ngày tháng tù ngục, cha Loan luôn được giáo dân ra vào thăm nuôi giúp đỡ. Nhưng cha không dùng hết các quà biếu cho riêng cha, mà cha rộng rãi chia sớt cho lính canh và các bạn tù, nên họ rất quí mến cha và càng đối xử dễ dàng hơn.

Hai lần cha bị điệu ra toà, nhưng thay vì tra khảo đánh đập, các quan chỉ hỏi qua lý lịch và khuyên bảo cha bước qua Thánh Giá để thả cha, nhưng cha nói: Các quan biết rõ tôi là đạo trưởng, và tôi đã phụng sự Chúa tôi đến tuổi già này, làm sao tôi có thể bước qua Thánh Giá mà chối bỏ Chúa tôi cho được?...

Quan lại hỏi: Sao cụ thờ Chúa của người Pháp? Tôi chẳng thờ Chúa của nước nào cả. Tôi chỉ thờ Chúa cả trời đất, Chúa của muôn dân muôn nước khắp cả hoàn cầu.

Thấy cha cương quyết không bỏ đạo, các quan buộc lòng làm án xử trảm, gởi trình lên vua Minh Mạng.

Trong thời gian chờ đợi vua chuẩn phê bản án, cha vẫn bị giam giữ trong ngục.Vì tuổi già sức yếu, lại phải ở nơi chật hẹp đo bẩn, nên cha ngã bệnh nặng. Viên cai ngục sợ cha chết trong tù, nên xin quan cho giáo hữu họ đạo Chuông Trung chăm sóc cho đến ngày được lệnh xử tử. Đó là ngày 5 tháng 6 năm 1840.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Thánh Cha Lêo 13 đã suy tôn cha lên Chân phước. Và Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II tôn phong Hiển thánh cho cha ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Quyết tâm: Hằng ngày chuyên cần cầu nguyện,, kêu xin Chúa ban thêm đức tin, để trọn niềm tin thờ Chúa cho đến trọn đời, theo gương linh mục Luca Loan tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

* Thánh Đa-minh Toại và Huyên 
Giáo dân tử đạo

Gương thánh nhân: Các thánh tử đạo Việt Nam phải chịu nhiều hình khổ khác nhau. Ngoài ra gông cùm, tù ngục, đòn vọt, các ngài có thể bị chém đầu, xẻo thịt, thiêu sống. Trong số 117 vị Hiển thánh tử đạo, phần đông bị trảm quyết ( chém đầu ), chỉ có 6 vị bị thiêu sống. Đa-minh Toại và Đa-minh Huyên là hai vị đầu tiên chịu hình khổ này để được trở nên của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa.

Đa-minh Toại sinh năm 1812 và Đa-minh Huyên sinh năm 1817. Hai ông là giáo hữu họ đạo Đông Thành, tỉnh Thanh Bình, thuộc giáo phận Trung Đàng ngoài. Cả hai đã có gia đình, là những gia trưởng đạo đức sốt sắng, luôn nêu gương mến Chúa yêu người. Các ông sống bằng nghề đánh cá, hằng ngày chài lưới trên sông Nhị Bình, ở gần cửa Ba- Lạt. Tánh tình đơn sơ, lương thiện, hai ông đều được các bạn đồng nghiệp và mọi người thương yêu khen ngợi.

Tháng 8 năm 1861, vua Tự Đức bắt đạo gắt gao. Nhà vua ra chiếu chỉ PHÂN SÁP, nhằm tận diệt người theo đạo Công Giáo. Theo chiếu chỉ này, quân lính và người ngoại giáo được phép vào các làng Công giáo tịch thu tài sản và bắt các giáo hữu đem nộp cho quan, để khắc hai chữ TẢ ĐẠO lên má.

Lúc đó quân lính và người ngoại giáo kéo vào họ đạo Đông Thành. Sau khi vơ vét tài sản của người Công giáo ở đây họ bắt nhiều người đem nộp cho quan huyện, trong số đó có Da-minh Toại và Đa-minh Huyên. Ông Toại bệnh tật đi lại không nổi, họ bảo ông nộp tiền chuộc, họ sẽ thả ông về gia đình. Nhưng ông xin đi cùng họ đến quan huyện vì ông muốn cùng các đồng đạo tuyên xưng Danh Chúa ra trước mặt mọi người, và hy sinh mạng sống làm chứng cho đạo Chúa là đạo thật.

Quân lính dẫn hai ông đến huyện Quỳnh Côi, và giam vào ngục, đợi ngày xét xử. Suốt chín tháng bị giam trong ngục, các ông phải đói khát, xiềng xích, gông cùm khổ sở, nhưng không bao giờ than thở buồn phiền, mà lúc nào cũng vui vẻ sẵn sàng chịu gian lao đau khó, trước là để lập công nghiệp, sau là để nêu gương can đảm hy sinh cho các bạn đồng đạo cùng bị giam trong ngục. Chẳng những thế, hai ông còn thường xuyên an ủi, khích lệ các bạn bền tâm giữ vững đức tin.

Trong thời gian bị giam giữ, nhiều lần hai ông bị điệu ra công đường, tra tấn đánh đập buộc phải bước qua Thánh Giá chối Chúa bỏ đạo; nhưng dù bị đòn đau đớn, các ông vẫn can đảm trung thành với Chúa. Các quan thấy cực hình không thể lay chuyển được lòng tin của các ông, thì tìm cách dụ dỗ, hứa trả tự do và ban nhiều tiền của, nếu các ông đạp lên Thánh giá. Các ông nói: Của cải đời này nay còn mai mất, không thể đem lại cho chúng tôi hạnh phúc vững bền. Chỉ có Chúa mới làm cho chúng tôi sống đời đời, được hưởng phước muôn đời. Chúng tôi quyết tin theo Chúa để được Người thương ban hạnh phúc vĩnh viễn đó.

Các quan nổi giận kết án thiêu sống hai ông. Án đó chẳng những không làm khiếp sợ, mà còn tăng thêm hân hoan phấn khởi cho các ông. Và các ông hết lòng cám ơn Chúa, vì Người đã thương cho các ông được trở nên của lễ toàn thiêu dâng tiến Chúa, để làm chứng cho Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Sáng ngày 5 tháng 6 năm 1862, hai ông Đa-minh Toại và Đa-minh Huyên vui vẻ bước lên giàn hoả thiêu dâng hiến đời mình cho Chúa. Trong khi ngọn lửa bốc cháy bừng bừng, các ông hoan hỷ cất tiếng ngợi khen, và cầu xin Chúa ban ơn thêm sức cho chịu nỗi cực hình ghê gom81 này, và các ông đã từ từ ngã gục trong đống lửa...

Ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Thánh Cha Piô XII tôn phong hai ông lên Chân phước, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng lên bậc Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Quyết tâm: Luôn nhớ của cải đời này nay còn mai mất, để hằng ngày lo tìm kiếm kho báu trên trời, và kêu xin Chúa giúp bền lòng chịu khó chịu cực ở đời này theo gương các thánh Đa-minh Toại và Đa-minh Huyên tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 6 tháng 6
THÁNH NÔ-BÊ-TÔ
Giám mục

Gương thánh nhân: Thánh Nô-bê-tô sinh tại Xăn-ten, nước Đức, năm 1082, ngay từ nhỏ đã có ý định muốn đi tu, nhưng vì gia đình thuộc dòng tộc vương giả, ngài thường lui tới triều đình nên bị lây nhiều thế tục. Ngài lao mình vào những cuộc lễ xa hoa và những thú vui ngoài thế gian.

Tương truyền, một hôm Nô-bê-tô cưỡi ngựa dạo chơi ngoài đồng vắng, bỗng cơn bão thình lình nổi lên, một cú sét đánh bên tai làm cho ngài té ngựa; và cảnh tượng như thánh Phaolô trên đường Đa-mát đã xảy ra. Ngài nghe như có tiếng nói: Nô-bê-tô, Ta đã chọn ngươi xây dựng Hội thánh ta, nhưng sao ngươi chạy trốn Ta?

Ngài thưa lại: Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì? Và ngài nghe như có tiếng trả lời. Hãy bỏ thế gian, sống đời ăn năn thống hối.

Trở về nhà, thánh nhân từ bỏ mọi sự, xin vào tu viện. Lúc đó ngài đa 33 tuổi. Ngài sống âm thầm trong suy niệm, cầu nguyện và chay tịnh. Ngài đã dành để hai năm để thống hối ăn năn dọn mình chịu chức linh mục. Và sau khi được tấn phong, ngài còn chuẩn bị tâm hồn suốt 40 ngày trước khi dâng Thánh lễ đầu tiên. Ngài xin Đức Giáo Hoàng ban phép cho đi rao giảng Tin Mừng và ngài giảng đặc biệt về lòng sám hối ăn năn. Bài giảng đánh động lòng người, giúp nhiều người trở lại, chính là đời sống khắc khổ của ngài, người ta gọi ngài là Gioan Tẩy Giả thứ hai vì ngài ăn chay hãm mình hằng ngày.

Nhưng việc quan trọng Chúa kêu gọi thánh nhân thực hiện, chính là việc sáng lập Dòng Pê-môn-trê ( gọi là dòng áo trắng )theo luật dòng thánh Âu-tinh. Năm 1126, Hội thánh đã công nhận dòng của ngài, đồng thời đạt ngài làm Tổng Giám mục Mát-đơ-bua. Từ đó, ngoài việc chăm sóc nhà dòng, ngài còn phải giảng dạy, cai quản và thánh  giáo đoàn." Nô-bê-tô thật xứng đáng vào sổ những người nhiệt thành đắc lực nhất với công cuộc canh tân do Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô đề xướng. Quả vậy ngài là người thứ nhất đã muốn lập ra một hàng giáo sĩ vừa chăm lo cuộc sống Tin Mừng vừa nhiệt thành truyền giáo, vừa trong sạch vừa nghèo khó, vừa mặc áo con người mới tức là áo tu sĩ vừa mang trang sức là chính chức linh mục; một hàng giáo sĩ muốn sống theo Kinh Thánh, lấy Đức Kitô làm thủ lãnh.

Trong tu viện, bắt chước Hội thánh thời sơ khai, ngài để các linh mục giữ vai trò các thánh tông đồ và quy tụ nhiều giáo dân nam nữ đến nỗi nhiều người nói rằng, từ thời các tông đồ cho đến nay chưa vị sáng lập nào trong thời gian ngắn đã chinh phục được nhiều người theo gương trọn lành như thế cho Đức Kitô.

Trở thành Tổng Giám mục, ngài kêu gọi anh em cùng dòng đến để làm cho miền Ven-đê ( bên Đức ) theo đạo. Ngài ra sức làm cho hàng giáo sĩ ở đó đi vào đường lối canh tân, không ngại sự xáo trộn và  trong dân chúng..."1

Năm 1134, vì tuổi già sức yếu, phần bổn phận chồng chất, ngài đã qua đời tại giáo phận.

Quyết tâm: Biết lắng nghe tiếng Chúa gọi mỗi khi lỡ lầm, sai lỗi, để sám hối ăn năn trở về với Chúa và nhiệt thành phụng sự Chúa theo gương thánh Nô-bê-tô.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Hội thánh một vị Giám mục rất nổi danh về đời sống cầu nguyện và lòng nhiệt thành của người mục là thánh Nô-bê-tô. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin Chúa sai những người mục tử vừa ý Chúa đến hướng dẫn chúng con đến nguồn ơn cứu độ.

*Thánh Phêrô Dũng, Phêrô Thuần và Vinh sơn Dương
Giáo dân tử đạo

Gương thánh nhân:"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che dấu được. Cũng chẳng có ai thấp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế để nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời."(Mt. 5,14 - 16)

Ánh sáng tự nhiên kéo sự chú ý của mọi người, cũng như hữu xạ tự nhiên hương. Đời sống thánh thiện của người tín hữu tất nhiên ảnh hưởng đến người khác, nhất là gương hy sinh can đảm chịu chết vì Chúa của các thánh tử đạo, đặc biệt của ba vị thánh Phêrô Dũng, Phêrô Thuần và Vinh-sơn Dương. Các ngài đã chịu thiêu sống, để trở thành ba ngọn đuốc sáng soi cho mọi người nhìn biết tin kính Chúa.

Phêrô Đinh Văn Dũng và Phêrô Đinh Văn Thuần là anh em bà con chú bác với nhau. Cả hai là tín hữu giáo xứ Trung Đồng, địa phận Trung Đàng ngoài, đã plập gia đình và làm nghề đánh cá. Hai ông đều là giáo hữu nhiệt thành trong xứ đạo, và là gia trưởng gương mẫu của gia đình, luôn luôn chu toàn bổn phận đối với Chúa, cũng như đối với vợ con và thân nhân.

Năm 1861, vua Tự Đức bắt đạo gắt gao. Do chiếu chỉ PHÂN SÁP của nhà vua, mọi người tin theo Chúa đều bị khắc lên má hai chữ TẢ ĐẠO, bị phân tán vào các làng mạc người ngoại giáo, tài sản bị tịch thu hoặc phá huỷ, và phải bước qua Thánh Giá để bỏ đạo. Ai bất tuân sẽ bị bắt, tống giam vào ngục, chịu cực hình cho đến chết.

Đầu năm 1862, hai ông Phêrô Dũng và Phêrô Thuần bị bắt tống giam vào ngục Ngọc Chí vì không chịu chối Chúa bỏ đạo. Ở đây, các ông phải mang gông cùm xiềng xích khổ sở ngày đêm. Nhiều lần các ông bị điệu ra công đường tra tấn đánh đập, buộc chà đạp lên Thánh Giá nhưng các ông cương quyết trung thành với Chúa. Các quan thấy cực hình không lay chuyển được lòng tin sắt đá của hai ông nên định dùng tình cảm để khuất phục. Quan cho quân lính dẫn hai ông về thăm vợ con, cố ý cho các ông thấy vợ con sầu buồn than khóc mà xiêu lòng bỏ đạo, trở về đoàn tụ với gia đình. Nhưng mặc cho vợ con khóc lóc than thở, các ông vẫn bình tĩnh, chẳng những không cảm động xiêu lòng, mà còn khuyên nhủ khích lệ vợ con sẵn sàng chấp nhận cho các ông hy sinh vì Chúa.

Thấy thế, các quan tức giận kết án thiêu sống hai ông, và ngày 6 tháng 6 năm 1862, hai ông lên dàn hỏa thiêu, chịu thiêu cháy để tuyên xưng lòng tin bất khuất nơi Chúa Kitô, và làm thành hai ngọn đuốc chiếu sáng cho mọi người nhìn biết tin kính Chúa.

*** 
Hôm nay cũng là ngày thánh Vinh-sơn Dương tử đạo.

Vinh-sơn Dương sinh năm 1821, tại làng Doãn Trung tỉnh Thái Bình, là giáo dân xứ Kẻ Mèn, địa phận Trung Đàng ngoài. Ông đã có gia đình và ba người con. Ngoài nghề ruộng rẫy, ông còn đảm trách việc thu thuế trong làng, nên quan quân quen biết ông, nhất là họ biết rõ ông là người công giáo nhiệt thành năng nổ trong xứ đạo. Chẳng những ông sống đạo sốt sắng mà còn hăng say rao giảng đạo Chúa cho mọi người. Vì thế khi vua Tự Đức ra chiếu chỉ PHÂN SÁP vào năm 1861, ông bị bắt đày sang làng Mỹ Nhuệ.

Ở đây trong suốt 9 tháng bị giam trong ngục, nhiều lần ông bị đưa ra tra tấn đánh đập, buộc đạp lên thánh giá bỏ đạo. Nhưng ông luôn cương quyết trung thành theo Chúa, thà chết chứ không bao giờ chà đạp lên Thánh Giá Chúa. Thấy khổ hình không lung lay nổi đức tin sắt đá của vị anh hùng, các quan xoay ra khuyên nhủ dụ dỗ, hy vọng sẽ làm cho ngài thay lòng đổi dạ. Song vô ích, ông gác ngoài tai tất cả mọi lời dụ dỗ. ông nhất quyết hy sinh mạng sống vì Chúa và vì Đức Tin.

Thế là ngày 6 tháng 6 năm 1862, ông Vinh-sơn Dương đã chịu tiêu sống để làm chứng cho Chúa.

Đức Thánh Cha Piô XII đã phong Chân phước cho ông Phêrô Dũng, Phêrô Thuần và Vinh-sơn Dương ngày 29 tháng 4 năm 1951. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm:Noi gương các thánh tử đạo Phêrô Dũng, Phêrô Thuần và Vinh-sơn Dương, quyết sống đạo sốt sắng nhiệt thành, và sẵn sàng chịu mọi sự gian lao khốn khó, để làm nhân chứng Chúa Kitô, trở nên ánh sáng soi cho mọi người nhìn biết tin kính Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

*** *
Thanh Giuse Trần Văn Tuấn Giáo dân tử đạo

Gương thánh nhân: Thánh giá là nguồn ơn cứu độ, Và là sức mạnh đỡ nâng con.

Đó là lời vị anh hùng đức tin Giuse Tu ấn đã tuyên xưng trước thánh giá Chúa, khi các quan yêu cầu ngài bước qua để được tha về. Thánh nhân chẳng những không dám xúc phạm Thánh Giá Chúa, mà còn hết lòng tôn kính suy tôn, và cảm tạ tình thương vô cùng của Chúa, vì thương xót loài người lầm than tội lỗi, Chúa Giêsu đã cam lòng chịu chết treo trên khổ giá. Khổ giá là nguồn ơn cứu chuộc, là sức mạnh nâng đỡ mọi người cũng như thánh Giuse Tuấn trong cơn gian lao thử thách...

Giuse trần Văn Tuấn sinh năm 1824 tại Nam Điền, tỉnh Nam Định trong một gia đình đạo giáo sốt sắng. Từ nhỏ cậu đã nổi tiếng ngoan đạo, hiền lánh, chân thật. Lớn lên cậu lập gia đình, theo tuyền thống cha ông làm nghề ruộng rẫy, đem sức lao động cần cù đổi lấy cơm áo nuôi sống cả nhà. Đối với vợ con, cậu là người chồng, người cha gương mẫu về đạo giáo cũng như đức hạnh.

Năm 1861, vua Tự Đức bắt đạo gắt gao. Vua ra chiếu chỉ PHÂN SÁP, bắt người công giáo khắc chữ TẢ ĐẠO lên má, tịch thu tài sản, rồi phân tàn vào các làng ngoại giáo. Họ đạo nam Điền của anh Giuse Tấun cũng như các xứ đạo khác đều bị phá hủy, bổn đạo phải phân tán khắp nơi, anh và một số giáo hữu khác bị bắt, lúc đó anh mới 36 tuổi. Họ giải anh về phủ Xuân Trường, rồi đày vào làng An Bái, huyện Thụy Anh.

Ở đây, anh bị giam trong ngục, cổ đeo gông, chân mang xiềng khồ sở. Vì cương quyết không chối Chúa bỏ đạo, nên quân lính lấy một thanh sắt nung đỏ khắc vào một bên má anh chữ TẢ ĐẠO, và má bên kia là tên làng xã quê quán của anh. Thật là một hình khổ nhục nhã đau đớn. Nhưng anh Giuse Tuấn, người chiến sĩ đức tin anh hùng vẫn can đảm chấp nhận, vì tin chắc đau khổ chống qua ở đời này sẽ đem lại hạnh phúc vô cùng đời sau, như Chúa Giêsu đã chịu chết một lần trên thánh giá, để đem lại ơn cứu rỗi muôn đời cho nhân loại.

Sau hơn một năm tù ngục và nhiều lần bị tra tấn hành hạ khổ sở, sức khỏe của anh giảm sút rất nhiều. Từ một nông dân lực lưỡng khỏe mạnh, nay anh gầy còm yếu ớt trông thấy rõ. Các quan hy vọng nhờ đó anh sẽ thối chí ngã lòng mà bỏ đạo, nên cho điệu anh ra công đường, khuyên nhủ anh bước qua thánh giá thì sẽ thả về với gia đình vợ con, và tặng thưởng tiền bạc. Quan nói với anh: -Tôi thấy anh nay ốm yếu quá, tôi thương anh, muốn cứu anh sống để về sum họp với gia đình. Vậy anh hãy bước qua thập giá đi. Tôi sẽ thả anh và thưởng anh số tiền lớn, dể anh bồi dưỡng sức khỏe và làm vốn lập nghiệp.

Thấy quan cứ khuyên nhủ mãi, anh Giuse Tuấn cũng bước đến gần Thánh Giá Chúa. Các quan khoái chí, vui mừng, tin chắc anh sẽ làm theo lời các ông khuyên bảo.

Nhưng thay vì bước qua thánh giá, anh quỳ gối xuống tôn kính thờ lạy Chúa và lớn tiếng cầu nguyện: -Lạy Chúa, con hết lòng cảm ơn Chúa, vì tình thương bao la cao cả của Chúa. Chúa thương con, Chúa đã chịu chết trên thánh giá để chuộc tội con. Thánh giá là nguồn ơn cứu độ con, là sức mạnh nâng đỡ con...

Cử chỉ tôn kính và lời tuyên xưng của anh làm cho các quan xấu hổ. Họ đã thất bại chua cay. Họ nổi giận, họ kết án tử hình người chiến sĩ anh dũng của Chúa.

Ngày 7 tháng 6 năm 1862, anh Giuse Tuấn được điệu ra pháp trường để tuyên xưng niềm tin bất khuất. Đến nơi, anh quỳ gối xuống, ngước mặt lên trời, phó dâng mạng sống để làm chứng cho Chúa, và sau hồi chiêng báo hiệu, đầu của vị anh hùng đã rơi xuống...

Đức Thánh Cha Piô XII đã tôn Giuse Trần Văn tuấn lên Chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ii tôn phong ngài lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm: Tôn sùng thán giá là nguồn ơn cứu độ và là nguồn sức mạnh trong gian lao thử thách, và sẵn sàng vác thánh giá, theo gương thánh Giuse Tuấn tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc